[Bài đã được cập nhật sau thay đổi quan trọng ngày 14 tháng 2 VÀ ngày 5 tháng 4 năm 2019 của Bộ Di trú, Người Tị nạn và Quốc tịch Canada (IRCC)].

 

Post-graduation work permit(PGWP)là “bước đệm” quan trọng để du hc sinh khi tốt nghiệp có thể kiếm việc làm và tích luỹ kinh nghiệm để tìm kiếm cơ hội định cư tại Canada. Dưới đây là các điểm cần lưu ý:

1. Du học sinh (DHS) CHỈ được cấp PGWP nếu hoàn thành một chương trình học ĐỦĐIỀU KIỆN nhận PGWP. Làm sao để biết chương trình học của bạn có đủ điều kiện? Kiểm tra tại Designated Learning Institutions (DLI) list từ trang web chính thức của IRCC, ở mỗi DLI đều có ghi rõ bên dưới cột “Offers PGWP-eligible programs” (link ở cuối bài),

2. PGWP chỉ được cấp 1 lần duy nhất, nghĩa là không ai cấm bạn xin chuyển từ PGWP holder sang study permit (SP) khác nhưng sau đó thì không còn xin được PGWP lần nào nữa,

3. PGWP sẽ không được cấp nếu DHS không học full-time (trừ học kỳ cuối) hoặctự ý ngưnghọc, dù chỉ là 1 học kỳ. Các kỳ nghỉ Hè, Đông và Xuânhay “reading week”(được gọi là “scheduled breaks”) không nằm trong dạng này, nói cách khác, trường cho nghỉ thì bạn có quyền nghỉ.Các trường hợp “leave” mà vẫn ở Canada và vẫn “tích cực theo đuổi việc học” CÓ THỂ vẫn sẽ được xét cấp PGWP,

4. Để xin được PGWP, DHS cần nộp cả thư xác nhận hoàn thành chương trình học (completion letter) và bảng điểm (có thể là bảng điểm chính thức hoặc in từ website của trường),

5. Độ dài (length/duration/validity) của PGWP được tính theo thời gian của chương trình học chính (post-secondary academic/professional/vocationalprograms, KHÔNG bao gồm các khoá chuẩn bị), được xác định trên bảng điểm hoặc thư xác nhận hoàn thành chương trình học:

+ Dưới 8 tháng: không được cấp

+ Từ 8 tháng tới dưới 24 tháng: bằng với thời gian chương trình học

+ Từ 24 tháng: 3 năm

+ Các trường hợp đặc biệt:

– Các chương trình “accelerated”: căn cứ trên bảng điểm hoặc thư xác nhận hoàn thành chương trình học. Lưu ý: nếu DHS hoàn thành chương trình học trước độ dài của khoá học MÀ trường KHÔNG CÔNG NHẬN đó là “accelerated” thì độ dài PGWP chỉ được bằng với thời gian thực tế đã học.

– Học kỳ cuối: bạn vẫn có thể được cấp PGWP nếu học kỳ cuối bạn chỉ học part-time

– Hơn một chương trình học: nếu du học sinh hoàn thành hơn một chương trình học ĐỦ ĐIỀU KIỆN nhận PGWP trong vòng 2 năm: có thể được xét cấp PGWP 3 năm (nếu tổng thời gian các chương trình học là 2 năm hoặc hơn),

– Một phần của chương trình học được hoàn tất ở nước ngoài: chỉ được tỉnh thời gian học ở Canada.

– Chuyển điểm/credits:

   * Chuyển giữa các “eligible DLIs” (vui lòng xem #1 ở trên để hiểu định nghĩa này): nếu điểm/credits từ DLI thứ nhất được DLI thứ hai chấp nhận và giúp cho DHS hoàn thành chương trình học, độ dài của PGWP sẽ được dựa trên các credits đã được chuyển đổi và hoàn thành,

 * Chuyển từ “ineligible DLI” qua “eligible DLI”: chỉ có thời gian học thực tế tại “elibible DLI” được tính khi cấp PGWP.

6. Phải apply PGWP trong vòng 180 ngày từ khi kết thúc chương trình học (được xác định trên bảng điểm hoặc thư xác nhận hoàn thành chương trình học). Ở thời điểm nộp application for PGWP, study permitcủa applicant không bắt buộc phải còn hạn. Tuy nhiên, một số điểm CỰC KỲ QUAN TRỌNG bạn cần phải lưu ý nếu study permit hết hạn:

– Study permit của bạn sẽ tự động hết hạn sau 90 ngày kể từ ngày kết thúc chương trình học (xác định bằng completion letter) theo S.222(1)(a), IRPR,

– Bạn KHÔNG được ở Canada quá thời hạn của study permit (nếu chưa apply cho một loại permit khác (vd như study hay work permit hay temporary resident permit (TRP – không áp dụng rộng rãi)) hoặc xin đổi status qua visitor. Nếu ở quá hạn, application for PGWP của bạn sẽ bị từ chối NẾU không kèm với application for restoration of status.

– Bạn KHÔNG được quyền đi làm full-time sau khi nộp application for PGWP (giả sử bạn thoả mãn tất cả các điều kiện khác của việc này (xem #7 ngay dưới đây)),

7. [Quan trọng] Bạn chỉ được đi làm full-time trong lúc đợi kết quả application for a PGWP sau khi hoàn thành khoá học khi thoả các điều kiện:

+ đã hoàn thành khoá học,

+ đã nộp application for a PGWP TRƯỚC khi study permit hết hạn,

+ được phép làm việc  off-campus mà không cần work permit khi đang đi học (ghi rõ trong phần conditions trên study permit) VÀ không làm off-campus quá giờ khi đang đi học.

8. Nếu chồng/vợ/common-law partner của bạn  muốn xin, hoặc gia hạn, open work permit khi bạn đã/đang/sắp xin PGWP, hãy đợi cho tới khi bạn có một công việc ở NOC level 0, A hoặc B.

9. Kinh nghiệm có được từ self-employment (dưới PGWP hay loại work permit nào khác) KHÔNG được tính thành Canadian experience theo định nghĩa của Canadian Experience Class (CEC).

 10. DHS nhận học bổng từ Global Affairs Canadavà một số tổ chức khác sẽ không được cấp PGWP.

11. Từ ngày kết khúc khoá học (học/thi xong môn cuối – CHỈ TÍNH cho các chương trình học chính, KHÔNG áp dụng cho các khoá chuẩn bị hoặc ESL/FSL) cho tới ngày nhận completion letter, DHS CHỈ được đi làm part-time (nếu thoả điều kiện “được phép làm việc  off-campus mà không cần work permit khi đang đi học (ghi rõ trong phần conditions trên study permit)”. DHS phải NGỪNG ngay việc đi làm part-time ngay sau khi nhận completion letter và TRƯỚC khi nộp (xong) application for PGWP (lúc này áp dụng như mục #7),

12. Hạn của PGWP sẽ KHÔNG được cấp quá hạn của passport, nếu bạn không muốn tốn thêm C$255 để xin gia hạn PGWP (CHỈ áp dụng trong trường hợp này) thì có thể liên hệ đại sứ quán hoặc lãnh sự quán VN để xin cấp mới passport trước hạn (vui lòng liên hệ trực tiếp, đừng hỏi người viết).

 

© Eric Lam, Regulated Canadian Immigration Consultant, Sep 2017

(+1 (778) 725-1071 – go@ericlaminc.ca)

————-

(*) List of DLIs: https://www.canada.ca/en/immigration-refugees-citizenship/services/study-canada/study-permit/prepare/designated-learning-institutions-list.html

————————-

[Vui lòng ghi rõ nguồn khi chia sẻ và xem phần Miễn trừ trách nhiệm nội dung ở chân trang]